Tin nổi bật

Lộ trình thi THPT, tuyển sinh ĐH năm 2018 Thí sinh chưa trúng tuyển vẫn còn cơ hội vào các ngành mà mình yêu thích?

Đề thi thử THPT Quốc gia môn Sử năm 2015 – Đề số 1

Bởi tuyensinh247 lúc 1:30 - 10/03/2015

Đề thi thử THPT Quốc gia môn Sử  năm 2015 – Đề số 1

Câu I (3,0 điểm)

Trình bày những thỏa thuận về việc đóng quân tại các nước nhằm giải giáp quân đội phát xít, phân chia phạm vi ảnh hưởng ở châu Âu và châu Á của ba cường quốc (Liên Xô, Mĩ, Anh) trong Hội nghị Ianta (2-1945). Đặc trưng nổi bật của trật tự thế giới hai cực Ianta là gì?

Câu II (2,0 điểm)

Phân tích những điều kiện khách quan và chủ quan để Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước.

Câu III (3,0 điểm)

Nêu những bài học kinh nghiệm của Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam. Suy nghĩ của em về việc vận dụng những bài học kinh nghiệm đó trong công cuộc bảo vệ tổ quốc và toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam hiện nay.

Câu IV (2,0 điểm)

Kể tên các tổ chức Mặt trận dân tộc thống nhất ở Việt Nam từ khi Đảng ra đời đến năm 1954. Nêu mục tiêu của Mặt trận dân tộc thống nhất trong giai đoạn (1951-1954).

Đáp án đề thi thử THPT Quốc gia môn Sử  năm 2015 – Đề số 1

Câu I (2,0 điểm)

a) Những thỏa thuận về việc đóng quân:

– Đầu năm 1945, Chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn kết thúc. Nhiều vấn đề quan trọng đặt ra trước các cường quốc Đồng minh. Trong bối cảnh đó, một Hội nghị quốc tế đã được triệu tập tại Ianta (Liên Xô) từ ngày 4 đến ngày 11/2/1945, với sự tham dự của nguyên thủ ba cường quốc Liên Xô, Mĩ, Anh.

– Hội nghị đã thỏa thuận về việc đóng quân tại các nước nhằm giải giáp quân đội phát xít, phân chia phạm vi ảnh hưởng ở châu Âu và châu Á.

+ Ở châu Âu, quân đội Liên Xô chiếm đóng miền Đông nước Đức, Đông Béclin và các nước Đông Âu; Quân đội Mĩ, Anh và Pháp chiếm đóng miền Tây nước Đức, Tây Béclin và các nước Tây Âu. Vùng Đông Âu thuộc phạm vi ảnh hưởng của Liên Xô, vùng Tây Âu thuộc phạm vi ảnh hưởng của Mĩ. Hai nước Áo và Phần Lan trở thành những nước trung lập.

+ Ở châu Á, Hội nghị chấp nhận những điều kiện để Liên Xô tham chiến chống Nhật: (1) Giữ nguyên trạng Mông Cổ; (2) Khôi phục quyền lợi của nước Nga bị mất sau cuộc chiến tranh Nga – Nhật (1904): Trả lại cho Liên Xô miền Nam đảo Xakhalin, Liên Xô chiếm 4 đảo thuộc quần đảo Curin,… Quân đội Mĩ chiếm đóng Nhật Bản. Ở bán đảo Triều Tiên, Hồng quân Liên Xô chiếm đóng miền Bắc và quân Mĩ chiếm đóng miền Nam, lấy vĩ tuyến 38 làm ranh giới. Trung Quốc cần trở thành một quốc gia thống nhất và dân chủ,… Các vùng còn lại của châu Á (Đông Nam Á, Nam Á, Tây Á) đều thuộc phạm vi ảnh hưởng của các nước phương Tây.

– Toàn bộ những quyết định của Hội nghị Ianta và những thỏa thuận sau đó của ba cường quốc đã trở thành khuôn khổ của trật tự thế giới mới, thường được gọi là Trật tự hai cực Ianta.

b) Đặc trưng nổi bật của trật tự Ianta:

– Thế giới bị chia thành hai phe Tư bản chủ nghĩa và Xã hội chủ nghĩa, do hai siêu cường Mĩ và Liên Xô đứng đầu mỗi phe.

– Đặc trưng hai cực – hai phe là nhân tố hàng đầu chi phối nền chính trị thế giới và các quan hệ quốc tế, nó làm cho quan hệ quốc tế luôn đối đầu căng thẳng trong phần lớn thời gian nửa sau thế kỉ XX.

Câu II (2,0 điểm)

Phân tích những điều kiện khách quan và chủ quan để Nguyễn Tất Thành ra đi tìm

đường cứu nước.

– Ngày 5-6-1911, lấy tên là Văn Ba, Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước. Đây là một sự kiện lớn có ý nghĩa quan trọng không chỉ với Nguyễn Tất Thành mà đối với cả dân tộc Việt Nam.

a) Khách quan.

– Sau khi đã cơ bản bình định được Việt Nam bằng quân sự, thực dân Pháp tiến hành cuộc khai thác thuộc địa lần I (1897-1914). Dưới tác động của cuộc khai thác, xã hội Việt Nam có những biến động đáng kể, từ xã hội phong kiến chuyển thành xã hội thuộc địa nửa phong kiến, mâu thuẫn dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp ngày càng gay gắt. Yêu cầu bức thiết đặt ra là tìm ra con đường cứu nước, cứu dân và giải phóng dân tộc. Yêu cầu khách quan đó đặt ra đối với mọi người dân Việt Nam, trong đó có Nguyễn Tất Thành.

– Cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX, phong trào yêu nước Việt Nam diễn ra mạnh mẽ. Tiêu biểu là phong trào Cần Vương, phong trào nông dân Yên Thế, phong trào theo xu hướng bạo động của Phan Bội Châu và cải cách của Phan Châu Trinh,…. Các phong trào trên đều thất bại do thiếu một đường lối và giai cấp lãnh đạo. Cách mạng Việt Nam lâm vào tình trạng khủng hoảng về đường lối và giai cấp lãnh đạo. Yêu cầu của lịch sử đặt ra là cơ sở thực tiễn quan trọng để Nguyễn Tất Thành tìm con đường cứu nước mới.

– Cũng vào đầu thế kỉ XX, các nước đế quốc đã hoàn thành việc phân chia thuộc địa và bắt đầu đặt ách cai trị lên những vùng đất đó, làn sóng đấu tranh giải phóng dân tộc khắp các châu lục dâng cao. Thắng lợi của cải cách Minh Trị đưa Nhật Bản trở thành một đế quốc hùng mạnh ở châu Á, cuộc duy tân Mậu Tuất ở Trung Quốc của Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu, ảnh hưởng của trào lưu tư tưởng tiến bộ của cách mạng Pháp, nền văn hóa châu Âu đã tác động và ảnh hưởng tới những người yêu nước Việt Nam trong đó có Nguyễn Tất Thành.

b) Điều kiện chủ quan.

– Nguyễn Tất Thành lúc nhỏ tên là Nguyễn Sinh Cung, sinh năm 1890 ở Nam Đàn – Nghệ An trong một gia đình nhà Nho yêu nước, quê hương có truyền thống đấu tranh bất khuất. Người lớn lên trong cảnh đất nước bị biến thành thuộc địa, nhân dân phải chịu cuộc sống lầm than. Vì thế Người sớm nảy sinh lòng yêu nước. Ngay từ những năm đầu thế kỉ XX, Nguyễn Tất Thành sớm tham gia các phong trào yêu nước của nhân dân ta.

– Người sớm bộc lộ tư chất thông minh, ham hiểu biết. Bằng những hoạt động thực tiễn, Nguyễn Tất Thành sớm nhận thấy những hạn chế của các con đường cứu nước của các bậc tiền bối cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX. Chính vì vậy, Nguyễn Tất Thành đặt lên vai mình trách nhiệm cứu nước, cứu dân.

Như vậy, những điều kiện khách quan và chủ quan nói trên đã hội tụ đầy đủ ở Nguyễn Tất Thành. Với một lòng yêu nước nồng nàn, vượt qua tầm thời đại, với lòng dũng cảm và nghị lực phi thường, Người đã sang phương Tây tìm đường cứu nước mới.

Câu III (3,0 điểm)

a) Những bài học kinh nghiệm:

– Đảng phải có đường lối đúng đắn, trên cơ sở vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê nin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam; nắm bắt tình hình thế giới và trong nước để đề ra chủ trương, biện pháp cách mạng phù hợp.

– Giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa nhiệm vụ dân tộc và dân chủ, đề cao vấn đề dân tộc, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu.

– Đảng tập hợp, tổ chức các lực lượng yêu nước rộng rãi trong mặt trận dân tộc thống nhất – Mặt trận Việt Minh, trên cơ sở khối liên minh công – nông; phân hóa và cô lập kẻ thù để tiến lên đánh bại hoàn toàn chúng.

– Trong chỉ đạo khởi nghĩa, Đảng linh hoạt kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, tiến hành khởi nghĩa từng phần, dự đoán và chớp thời cơ Tổng khởi nghĩa trong cả nước.

b) Suy nghĩ:

– Trong bối cảnh toàn cầu hóa với xu thế hội nhập, đã đặt ra thời cơ và thách thức mới đối với đât nước ta. Dân tộc Việt Nam đã trải qua nhiều cuộc chiến tranh hơn bất kì dân tộc nào khác trên thế giới, nên thấu hiểu những giá trị của hòa bình, của độc lập dân tộc.

– Trong nhiều năm qua, dân tộc Việt Nam vẫn đứng trước những thử thách nghiêm trọng cả trong quá trình hội nhập với thế giới, cả về công cuộc bảo vệ chủ quyền đất liền và biển đảo,… Trong hoàn cảnh đó, những bài học của Cách mạng tháng Tám cần phải được giữ gìn, vận dụng và phát huy. Đó là:

– Giữ vững sự lãnh đạo của Đảng, kiên trì đường lối độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, vận dụng sáng tạo những nguyên lí của chủ nghĩa Mác – Lê nin trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam, đặc biệt là giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ.

– Tập hợp và đoàn kết toàn dân, phát huy sức mạnh tổng hợp của dân tộc và thời đại, kiên trì đường lối hòa bình, phát huy sức mạnh toàn diện trên tất cả các mặt trận, từ kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao, văn hóa, giáo dục,… – Đồng thời, bài học chớp thời cơ của Cách mạng tháng Tám cũng đòi hỏi chúng ta vận dụng, tận dụng được những điều kiện hội nhập, mở cửa để tăng cường sức mạnh của dân tộc, đoàn kết quốc tế, sự ủng hộ của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới.

Câu IV (2,0 điểm)

a.Các Mặt trận dân tộc thống nhất:

– Hội phản đế đồng minh Đông Dương (11-1930) (chưa được thành lập trên thực tế).

– Mặt trận Thống nhất nhân dân phản đế Đông Dương (7-1936). Đến tháng 3- 1938, đổi thành Mặt trận Thống nhất dân chủ Đông Dương (gọi tắt là Mặt trận Dân chủ Đông Dương)

. – Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương (11-1939). – Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh) (5-1941).

– Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam (Liên Việt) (5-1946).

– Mặt trận Việt Minh và Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam hợp nhất thành Mặt trận Liên Việt (3-1951).

b) Mục tiêu của Mặt trận dân tộc thống nhất giai đoạn (1951-1954):

– Mặt trận dân tộc thống nhất trong giai đoạn 1951 – 1954 là Mặt trận trận Liên Việt.

– Thực hiện nhiệm vụ đoàn kết toàn dân, xây dựng lực lượng cách mạng, chống âm mưu chia rẽ của thực dân Pháp, động viên quần chúng tham gia cuộc kháng chiến, kiến quốc.

– Thực hiện đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kì, tự lực cánh sinh của Đảng, đưa cuộc kháng chiến chống Pháp đến thắng lợi hoàn toàn.

 

Nguồn viettel.study

Bình Luận

Để lại một phản hồi

Chúng tôi sẽ không public email của bạn. Vui lòng hoàn thành tất cả các ô bắt buộc*

Bạn có thể sử dụng các tag: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <s> <strike> <strong>

Nhập mã xác nhận (Điền chữ số lần lượt tương ứng với hình) *

Bài viết cùng chuyên mục

Công ty diệt mối tại đà nẵng. đội thi công diet moi tai tphcm tkp Cacuoc360.net trang cá cược cá độ online tốt nhất. Cach dang ky 188bet nhanh nhat. Dich vu chuyen nghiep lam bang dai hoc tai tphcm apartment for rent . House for rent in da nang . apartment for rent in da nang