Tin nổi bật

Lộ trình thi THPT, tuyển sinh ĐH năm 2018 Thí sinh chưa trúng tuyển vẫn còn cơ hội vào các ngành mà mình yêu thích?

VĂN HÓA GIAO TIẾP CỦA NGƯỜI NHẬT

Bởi tuyensinh1 lúc 9:39 - 11/12/2014

Đối với người Nhật Bản, hoa anh đào không chỉ tượng trưng cho vẻ đẹp thanh cao mà còn là nỗi buồn về sự ngắn ngủi, phù du và tính khiêm nhường, nhẫn nhịn. Cây hoa anh đào đem tặng được xem như biểu tượng hòa bình của nước Nhật với các nước khác trên thế giới. Hoa anh đào mọc ở Triều Tiên và Mỹ không có mùi hương. Trong khi đó, ở Nhật Bản, người ta ngợi ca hương thơm của hoa anh đào trong những vần thơ. Hoa anh đào nở báo hiệu mùa xuân đến. Suốt tuần lễ thứ hai của tháng Tư, lễ hội hoa anh đào được tổ chức khắp nơi đón mùa xuân mới và mọi người tụ tập trong các buổi tiệc ngắm hoa “ohanami” (flower viewing party). Mỗi khi mùa xuân đến, hoa đào như phủ khắp đất nước Nhật Bản. Cả một màu hồng phấn ôm trọn lấy núi đồi, lan tỏa khắp phố phường tượng trưng cho một mùa lãng mạn và đẹp nhất: mùa hoa anh đào.
Trong giao tiếp truyền thống của người Nhật có những quy tắc, lễ nghi mà mọi người đều phải tuân theo tùy thuộc vào địa vị xã hội, mối quan hệ xã hội của từng người tham gia giao tiếp. Những biểu hiện đầu tiên trong quá trình giao tiếp của người Nhật là thực hiện những nghi thức chào hỏi. Tất cả các lời chào của người Nhật bao giờ cũng phải cúi mình và kiểu cúi chào như thế nào phụ thuộc vào địa vị xã hội, từng mối quan hệ xã hội của mỗi người khi tham gia giao tiếp.
Một quy tắc bất thành văn là “người dưới” bao giờ cũng phải chào “người trên” trước và theo quy định đó thì người lớn tuổi là người trên của người ít tuổi, nam là người trên đối với nữ, thầy là người trên (không phụ thuộc vào tuổi tác, hoàn cảnh), khách là người trên… Người Nhật sử dụng ba kiểu cúi chào sau:
van hoa giao tiep cua nguoi nhat ban

+ Kiểu Saikeirei:
 cúi xuống từ từ và rất thấp là hình thức cao nhất, biểu hiện sự kính trọng sâu sắc và thường sử dụng trước bàn thờ trong các đền của Thần đạo, chùa của Phật giáo, trước Quốc kỳ, trước Thiên Hoàng.
 + Kiểu cúi chào bình thường: thân mình cúi xuống 20-30 độ và giữ nguyên 2-3 giây. Nếu đang ngồi trên sàn nhà mà muốn chào thì đặt hai tay xuống sàn, lòng bàn tay úp sấp cách nhau 10-20cm, đầu cúi thấp cách sàn nhà 10-15cm.
 + Kiểu khẽ cúi chào: thân mình và đầu chỉ hơi cúi khoảng một giây, hai tay để bên hông.
Người Nhật chào nhau vài lần trong ngày, nhưng chỉ lần đầu thì phải chào thi lễ, những lần sau chỉ khẽ cúi chào. Ngay cả người Nhật cũng thấy những nghi thức cúi chào này hết sức rườm rà nhưng nó vẫn tồn tại trong quá trình giao tiếp từ thế hệ này qua thế hệ khác và cho đến tận ngày nay.
 + Giao tiếp mắt: người Nhật thường tránh nhìn trực diện vào người đối thoại, mà họ thường nhìn vào một vật trung gian như caravat, một cuốn sách, đồ nữ trang, lọ hoa…, hoặc cúi đầu xuống và nhìn sang bên. Nếu khi nói chuyện mà nhìn thẳng vào người đối thoại thì bị xem như là một người thiếu lịch sự, khiếm nhã và không đúng mực.
 + Sự im lặng: người Nhật có khuynh hướng nghi ngờ lời nói và quan tâm nhiều đến hành động, họ sử dụng sự im lặng như một cách để giao tiếp và họ tin rằng nói ít thì tốt hơn nói quá nhiều. Trong buổi thương thảo, người có vị trí cao nhất thường ít lời nhất và những gì anh ta nói ra là quyết định sau cùng, im lặng cũng là cách không muốn làm mất lòng người khác.
 + Gián tiếp và nhập nhằng: thường thì họ giải thích ít những gì họ ám chỉ và những câu trả lời thì cũng rất mơ hồ. Họ không bao giờ nói “không” và chẳng nói cho biết rằng họ không hiểu. Nếu cảm thấy bất đồng hoặc không thể làm những yêu cầu của người khác họ thường nói “điều này khó”.
Bất kỳ lời nói, cử chỉ nào của người Nhật kể cả sự thúc giục hay từ chối cũng đều mang dấu ấn của sự lịch thiệp, nhã nhặn. Vì người Nhật có ý thức tự trọng cao nên họ đặc biệt tránh trở thành kẻ lố bịch, không đúng mực, khiếm nhã khi giao tiếp.Người Nhật rất chú trọng làm sao cho người đối thoại cảm thấy dễ chịu. Họ không bao giờ muốn làm phiền người khác bởi những cảm xúc riêng của mình, cho dù trong lòng họ đang có chuyện đau buồn nhưng khi giao tiếp với người khác họ vẫn mỉm cười.
Khi bước vào tiếp xúc, sau những lời chào hỏi xã giao, với cương vị chủ nhà, họ thường chủ động đi vào vấn đề cần bàn bạc trước. Lúc câu hỏi được đưa ra có nghĩa là công việc đã chính thức bắt đầu. Trong không khí căng thẳng, nếu bạn tạo được tình huống vui vẻ gây cười thì sẽ tạo được ấn tượng tốt, nhưng nên dừng lại đúng lúc. Người Nhật khi đang thực thi nhiệm vụ hoặc đang suy nghĩ thì không nên đưa ý kiến chệch vấn đề đang bàn, nói những câu thiếu thông tin, hỏi về đời tư. Bạn sẽ bị đánh giá là thiếu nghiêm túc, thậm chí sẽ gây ác cảm với họ.
Dù người Nhật rất khoan dung với người nước ngoài về khoản này, nhưng sẽ là một lỗi trong giao tiếp nếu không dùng ngôn ngữ lễ phép và kính ngữ khi dùng tiếng Nhật để nói chuyện với người có địa vị cao hơn. Kính ngữ “san” có thể dùng khi bạn nói tiếng Anh nhưng đừng dùng nó để gọi chính mình. Tên người Nhật có họ để phía trước nhưng họ cũng thường để ngược lại vì lợi ích của người Tây phương trong giao tiếp.
Nụ cười hay tiếng cười của người Nhật có thể là do họ cảm thấy bối rối hoặc khó chịu, và có thể không mang nghĩa là họ đang vui.
Sẽ là thô lỗ nếu khi không gửi thiệp trong ngày Tết của Nhật khi nhận được thiệp gửi cho bạn. Nhưng nếu gửi thiệp ấy tới một tang gia chưa giáp năm là lỗi trong giao tiếp.
Với người Nhật, việc tặng tiền thường bị xem là thô lỗ, tiền mặt là loại quà cáp quy chuẩn trong đám cưới hay cho trẻ em trong năm mới.
Khi gọi ai đó bằng cách vẫy tay, nên để tay thẳng, lòng bàn tay hướng xuống, sau đó quạt các ngón tay xuống, việc cong một vài ngón tay trong không khí là cử chỉ tục tĩu. Sẽ là một lỗi trong giao tiếp nếu chỉ tay trực tiếp vào người khác, thay vào đó ta mở rộng bàn tay ngửa lên trên như thể đang bưng một cái mâm và chỉ về phía người đó.
Một điều rất quan trọng trong giao tiếp là cách tạo ra thiện cảm ban đầu, trong công việc cũng như sinh hoạt, người Nhật không muốn bị lãng quên. Với quỹ thời gian eo hẹp của cuộc sống công nghiệp, công chức Nhật rất quan tâm vấn đề thời gian nếu có cuộc hẹn. Họ tỏ ra khó chịu khi phải đợi và rất mất cảm tình với người sai hẹn. Nếu là người đi tìm hiểu cơ hội hợp tác kinh doanh thì anh ta khó có cơ hội thứ hai gặp lại.Người Nhật thích tặng quà cho từng người khách và khi được tặng quà thường không mở món quà đó trước mặt người tặng quà, như luật bất thành văn, họ tặng quà nhau trong các ngày lễ tết hoặc khi có tin vui, thăng quan tiến chức. Việc gói quà tặng là cả một nghệ thuật, bạn nên nhờ nhân viên bán hàng làm giúp để tránh sai sót. Không nên tặng quà có số lượng 4 hoặc 9, những vật nhọn hoặc trà uống vì chúng tượng trưng cho điều kém may mắn tại Nhật.
Khi đến nhà người khác chơi, được chủ nhà mời vào nhà thì người khách phải đáp “cảm ơn, rất hân hạnh” và cởi bỏ áo khoác trước cửa nhà. Nếu là người đến thăm lần đầu thì chỉ ở chơi không quá nửa giờ, sau đó vào lúc thích hợp phải xin phép ra về với câu “Tôi đã làm phiền ngài quá lâu, xin lượng thứ”. Sau khi cởi đôi dép đi trong nhà, người khách phải quay mũi dép vào trong phòng, ở cửa người khách phải cúi chào một lần nữa và cảm ơn chủ nhà vì sự tiếp đón rồi mới đi ra.
Phụ nữ Nhật khi nói chuyện với người ít quen biết thì họ phải im lặng và nhìn đi chỗ khác, đó được coi là những hành vi đức hạnh, được đánh giá là người phụ nữ đức hạnh, còn nếu nhìn chăm chú sẽ bị đánh giá là người không đứng đắn, thiếu đức hạnh vì hành vi đó được đánh giá như lời mời gọi dẫn tới sự thân mật.


NÉT THÚ VỊ TRONG GIAO TIẾP BẰNG HÌNH ẢNH CỦA NGƯỜI NHẬT

Từ trước tới nay, chúng ta luôn có ấn tượng rằng người Nhật rất chú trọng cách ăn nói và ứng xử, thậm chí có phần hơi cứng nhắc . Ví dụ như nếu trong phòng làm việc ,có một người về trước, họ luôn phải nói với những đồng nghiệp còn ở lại là “Osaki ni shitsurei shimasu” ( “xin phép được về trước ạ”) . Tuy vậy, nếu tìm hiểu sâu hơn về tiếng Nhật, chúng ta sẽ thấy những điều rất thú vị. Nhất là trong cách nói dùng hình ảnh để miêu tả tính chất sự việc của họ. Khi nói một người rất bận rộn, họ nói bận tới mức mà muốn “ Neko no te mo karitai” ,tức là mượn tay của cả con mèo nữa để làm xong được việc (tiếng Nhật, “neko” nghĩa là “con mèo”, “te” nghĩa là “tay” , còn “karitai” là “muốn mượn” ). Hay khi muốn nói nhà chật chội quá, người ta dí dỏm đùa rằng nhà tôi chỉ rộng bằng “ Neko no hitai “, tức là bằng cái trán của con mèo thôi. Khi gặp một người hay giả vờ ngoan hiền nhưng thực ra rất ghê gớm, họ nói người ấy có tính cách kiểu “Neko o kaburu”, tức là “đội con mèo lên đầu”, chúng ta có thể hiểu như là “đội lốt mèo”, tức là giả vờ hiền lành (có lẽ người Nhật cho rằng mèo rất hiền chăng?).

Qua những ví von thú vị như vậy, chúng ta có thể nhận thấy sự hóm hỉnh mà sâu sắc trong cách ví von của người Nhật.  Nhưng so sánh với “con mèo” có lẽ còn khá xa xôi, người Nhật cũng nói trực tiếp , điều này hơi giống với người Việt Nam chúng ta. Ví dụ như gặp một người bướng bỉnh, nhất định không nhận ra sai lầm của minh, người Việt nói “thật là cứng đầu cứng cổ”, người Nhật nói “Atama ga katai”, tức là “đầu cứng” (“Atama” là “đầu”, còn “ka tai” là “cứng” ). Hay với người ít  nói , biết giữ bí mật , người Việt nói “ thật là biết “giữ mồm giữ miệng”. Lúc ấy người Nhật nói “Kuchi ga omoi” , nghĩa là “ mồm miệng nặng chình chịch” (“kuchi” là “miệng” , còn “omoi” là “nặng” theo nghĩa đen ). Nhưng cũng có lúc người Nhật lại nói vừa xa vừa gần, khiến người nghe hình dung ra phần nào tính chất của sự việc, sự vật, nhưng vẫn hơi mơ hồ, chưa dám chắc chắn, cần người khác giải thích . Ví dụ như “A ta ma ga kireru”, người nước ngoài biết tiếng Nhật “Kireru” tức là “cắt” (ví dụ như “cắt giấy”), nhưng sao “đầu” lại dùng  để “cắt” được? Chẳng lẽ “đầu” lại sắc giống như “kéo”, “dao”? Hoá ra người Nhật muốn nói “đầu óc sắc sảo, tinh nhạy, đối phó nhanh” ! Hay câu “Kao kara hi ga deru” nghĩa là “lửa từ khuôn mặt tự bốc ra”, chắc nhiều người liên tưởng tới hình ảnh khuôn mặt bị đỏ rực, như có “lửa bốc ra” vậy! Nhưng không rõ họ muốn nói đến sự xấu hổ hay sự tức giận làm khuôn mặt đỏ ửng lên? Nghĩa đúng của câu là chỉ sự xấu hổ, còn khi muốn nói tới sự tức giận, người Nhật lại nói “ Me no iro wo kaeru”, tức là “mắt cũng phải đổi màu vì giận” (“Me no iro” là “màu của mắt”, “kaeru” là “thay đổi” ). Ngoài ra, còn rất nhiều cách nói thú vị như “Hana ga takai “được hiểu là  kiêu ngạo, vì kiêu ngạo thì “mũi sẽ cao” do hay vênh mặt lên (“Hana” là “mũi”, “takai “ là “cao”, về nghĩa đen), hay như “Hara guroi “là “bụng đen xì”, tức là người xấu bụng theo nghĩa bóng…

Càng tìm hiểu ngôn ngữ Nhật Bản, ta càng thấy được những điều thú vị, và cũng hiểu thêm về người Nhật và quan niệm của họ trong cuộc sống . Hơn nữa , rõ ràng cách nói dùng hình ảnh như vậy để lại ấn tượng sâu sắc và dễ nhớ hơn. Điều này rất có ích cho chúng ta trong công việc học tập, nghiên cứu về tiếng Nhật và văn hóa Nhật Bản.

Bình Luận

Để lại một phản hồi

Chúng tôi sẽ không public email của bạn. Vui lòng hoàn thành tất cả các ô bắt buộc*

Bạn có thể sử dụng các tag: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <s> <strike> <strong>

Nhập mã xác nhận (Điền chữ số lần lượt tương ứng với hình) *

Bài viết cùng chuyên mục

Công ty diệt mối tại đà nẵng. đội thi công diet moi tai tphcm tkp Cacuoc360.net trang cá cược cá độ online tốt nhất. Cach dang ky 188bet nhanh nhat. Viện đào tạo tổ chức lớp học đấu thầu tại hà nội uy tín Dịch vụ Thiết kế website giá rẻ tại TPHCM uy tín nhất. Dich vu chuyen nghiep lam bang dai hoc tai tphcm